
Tôi cứ ngỡ mình có thể nhận ra điểm khởi đầu hành trình ơn gọi thánh hiến của bản thân, nhưng nghiệm cho sâu, suy cho cạn, đó là điều không thể. Bởi chưng, lời mời bắt nguồn từ Đấng đã yêu tôi “bằng mối tình muôn thuở” (Gr 31,3), đã gọi chính tên tôi và âu yếm xác nhận tôi là của riêng Ngài (Is 43,1), từ khi nào và vì sao thì chỉ mình Ngài biết rõ ngọn nguồn. Vì thế, những dòng chia sẻ dưới đây chỉ là một nỗ lực đầy giới hạn nhằm giải nghĩa huyền nhiệm tình yêu giữa Thiên Chúa tối cao và thụ tạo nhỏ bé.
Ai đó bảo gia đình và giáo xứ là cái nôi của ơn gọi. Tôi thấy điều đó thật đúng cho cá nhân mình. Những bài thánh ca như “Tâm Tình Hiến Dâng”, “Bỏ Ngài Con Biết Theo Ai”, rồi những chương trình của đài Chân Lý Á Châu như chia sẻ Lời Chúa của Nguyễn Khắc Dũng, những mẩu suy niệm ngắn của Mai Hương ngày ấy đã ru tuổi thơ tôi, nuôi dưỡng cảm thức đức tin và ươm mầm ơn gọi thánh hiến trong tôi. Bên cạnh đó, việc tham gia vào các sinh hoạt giáo xứ như phong trào Thiếu Nhi Thánh Thể, lễ sinh, thừa tác viên Lời Chúa đã giúp tôi được dưỡng nuôi bởi Lời và Bánh.
Tuy vậy, phải đợi đến khi một sơ bằng xương bằng thịt trong bộ áo dòng thánh thiện xuất hiện trước mắt mình, tôi mới bắt đầu phác họa ước mơ “đi tu”. Dẫu không nhớ chính xác bao nhiêu câu hỏi về “sơ” tôi đã hỏi mẹ, và không biết mình hiểu đến đâu những điều được giải thích, nhưng tôi không bao giờ quên cái cảm giác dường như cả một trời ước mơ bừng tỉnh trong tâm hồn mình. Ít lâu sau, theo chân người chị họ, Chúa Nhật hàng tuần tôi đạp xe đến tìm hiểu ơn gọi ở cộng đoàn các sơ Đa Minh Tam Hiệp. Có những khi đường ngập lụt, lầy lội, hai chị em xin đi ké giang đò từ đầu kênh vào nhà các sơ, ăn cơm trưa, đọc kinh chiều, chơi với các sơ rồi theo đò ra đầu kênh 7, từ đó đạp xe về lại kênh 4. Đến bây giờ tôi vẫn không hiểu vì sao mình “liều” và “mê” vậy.
Kỷ niệm đặc biệt nhất trong thời gian đó là dịp Dòng Đa Minh Tam Hiệp mừng 60 năm thành lập. Tôi được theo bác lên dự lễ, vì lúc đó chị họ của tôi đã gia nhập Thanh Tuyển viện. Tôi hoàn toàn choáng ngợp vì các sơ đông như “ong vỡ tổ” và ai cũng đẹp một vẻ đẹp thánh thiện. Thả hồn miên man theo những ca khúc thánh hiến được mở trên loa phóng thanh, tôi hòa vào dòng người dạo quanh khuôn viên tu viện, và cảm nhận một sự bình yên đến lạ. Tôi tự nhủ một ngày không xa đây cũng sẽ là nơi tôi tận hiến cuộc đời mình. Thánh lễ tạ ơn hôm ấy và buổi văn nghệ “cây nhà lá vườn” giúp cho ước mơ “làm sơ” của tôi rõ nét hơn và mãnh liệt hơn.
Sau khi trở về, tôi tiếp tục chương trình học. Tuy nhiên, các buổi đi sinh hoạt thưa dần, có khi chỉ một lần một tháng, vì không còn chị họ đồng hành. Khoảng đầu năm lớp 9, Sơ phụ trách Thanh Tuyển ngoại trú định hướng cho tôi chuyển về Sài Gòn học và tương lai sẽ thi vào ngành y theo nhu cầu của sứ vụ. Tôi hoang mang vô cùng, vì ở tuổi 14 thì việc đi Sài Gòn ở và học khiến tôi sợ hãi hơn là hào hứng. Tôi nói với Sơ cho tôi thời gian suy nghĩ, nhưng ngay phút đó tôi đã thấy lòng mình bảo “không”. Vì thế, tôi tìm đủ lý do để tránh không qua gặp Sơ.
Trong thời gian đó, thầy Hiệu trưởng của tôi đến thăm và đề nghị ba mẹ cho tôi thi vào trường chuyên Huỳnh Mẫn Đạt ở Rạch Giá. Biết ba mẹ lo lắng về chỗ ăn chỗ ở, thầy bảo rằng thầy có căn nhà trên đó và có một chú bác sỹ người cùng quê sẽ quản lý và thay thầy chăm sóc tôi cũng như con trai của thầy (bạn cùng lớp với tôi cũng thi vào trường đó).
Tôi theo thầy lên thăm quan nhà nhưng linh cảm cho thấy đấy cũng không phải là nơi tôi sẽ tạm trú. Tình cờ, tôi nghe biết chị Bùi Thị Thanh Thảo học cùng trường chuyên với tôi và hiện đang ở nội trú trong cộng đoàn các sơ ở Rạch Giá. Tuy nhiên, điều kiện được vào ở là phải có ước muốn đi tu. Tôi lưỡng lự một chút. Cuối cùng theo lời khuyên của ba mẹ: “tu đâu cũng là tu”, tôi đã xin và được gia nhập Đệ tử nội trú của dòng Mến Thánh Giá Khiết Tâm vào ngày 01/08/2001. Tôi gặp sơ Thiện dòng Đaminh Tam Hiệp lần cuối để thưa với sơ về quyết định cuối cùng và cũng để chào tạm biệt. Sơ nhìn tôi một lúc và nhẹ nhàng bảo: “Thôi, thì Sơ gieo, người ta gặt vậy”.
Ba năm đầu tiên xa nhà đầy thử thách vì môi trường học tập căng thẳng và đời sống nơi tu viện đòi tôi phải thay đổi nhiều để thích nghi. Tôi nhớ mình đã khóc nhiều lần dưới chân tượng Đức Mẹ trong Nhà Nguyện của cộng đoàn. Khóc vì nhớ nhà, khóc vì học hành vất vả, khóc vì cái tôi của mình “biểu tình” khi được các Sơ uốn nắn sửa dạy. Tuy nhiên, không bao giờ tôi nghĩ mình sẽ bỏ cuộc, không phải vì tôi bản lĩnh, nhưng nhờ lời cầu bầu, an ủi của Mẹ Maria, Nữ Vương ơn gọi của tôi. Một động lực khác đó là những lần về họp mặt chung với Thanh Tuyển nội và ngoại trú toàn Hội Dòng. Tôi trân trọng từng giây phút của tuần gặp gỡ ấy. Tôi thích nhất nhìn các sơ sáng sáng chiều chiều thanh thản bước về Nguyện Đường trong bộ tu phục giản dị với quyển sách kinh phụng vụ trong tay. Đặc biệt, các giờ hát kinh phụng vụ đã chạm thật sâu vào tâm hồn tôi và cho tôi khát khao được ca mãi những giai điệu thanh thoát ấy suốt cuộc đời mình. Tôi biết ơn quí Dì Phụ trách, quí Dì giáo, quí Dì và chị em cộng đoàn Têrêsa đã giúp tôi vững bước vào giảng đường đại học cũng như các giai đoạn huấn luyện kế tiếp.
Những tháng năm là Thanh tuyển – sinh viên cũng ghi dấu ấn đặc biệt. Sức trẻ và sự năng động của một cộng đoàn huấn luyện tiếp tục chắp cánh cho những ước mơ, nhiệt huyết trong tôi, và giúp tôi được thăng tiến về đời sống thiêng liêng, nhân bản, đời sống cộng đoàn, và đời sống sứ vụ. Tôi hết lòng tri ân Dì Phụ Trách, quí Dì giáo, quí Dì và chị em đã yêu thương và kiên nhẫn với tôi.
Ra trường, chia tay bạn bè, tôi bước vào giai đoạn Tiền tập với sự bình an. Thỉnh thoảng bạn bè thời đại học gọi hỏi thăm khiến tôi có chút xao động vì thấy họ đi xa hơn và thành công trong sự nghiệp. Nhưng tôi vẫn ôm lấy lý tưởng thánh hiến. Chính nơi mái nhà Thử Viện tôi được học để khám phá mình rõ hơn. Tôi học để nhận ra sự khác biệt giữa cái tôi lý tưởng và cái tôi thực tế của mình, hầu dần khuôn mình theo lối đường Thiên Chúa đang mời gọi tôi bước sâu vào.
Rồi giai đoạn đẹp nhất của đời tu (theo lời của nhiều tiền bối) cũng đã đến. Không hiểu sao, lúc đó việc được đội chiếc lúp trắng trên đầu quan trọng hơn mọi điều khác. Nó như đánh dấu một mốc điểm linh thiêng trong hành trình theo Chúa. Cùng với sự đồng hành của Dì Giám Tập, tôi cộng tác với ân sủng của Thiên Chúa và cùng với Ngài lao tác để có thể biết mình rõ hơn một chút, nhờ sống tương quan mật thiết với Thiên Chúa Tình Yêu. Tôi cũng được học biết sâu hơn về Linh đạo, sứ mạng của Dòng, về Ba Lời Khấn, đời sống cộng đoàn, để rồi tôi sẵn sàng thuộc trọn về Ngài.
Ngày lễ kính trọng thể Thánh Tâm Chúa năm 2012 tôi được tuyên khấn lần đầu. Ngày 28/06/2023 tôi được tuyên khấn trọn đời. Có một liên kết đặc biệt trong đời tôi với Thánh Tâm Ngài. Tôi được sinh trong tháng kính Thánh Tâm, và được thánh hiến cho Ngài cũng trong lửa tình yêu thánh thiêng ấy.
Chiêm niệm lại hành trình ơn gọi của mình giúp tôi kết nối những chấm nhỏ nhỏ và nhận ra sợi dây ân sủng đã dẫn lối, uốn nắn, thánh hóa cho đời tôi được mang tên đời thánh hiến. Không có gì là tình cờ, không có chi vô nghĩa. Tất cả trở nên sáng hơn qua cái nhìn của tin – yêu – và hy vọng. Sẽ mãi còn đó những ngỡ ngàng và tâm tình biết ơn sâu thẳm, vì nếu khởi đi từ chính bản thân vô cùng giới hạn của người được gọi thì dường như được thánh hiến là điều không tưởng và hoàn toàn bất xứng. Nhưng nếu phản tỉnh trong ánh nhìn của Thiên Chúa nhân hậu và giàu lòng xót thương thì mọi điều đều có thể, hầu làm vinh danh Ngài.
Đối diện với cái tôi trần trụi của bản thân để xin cho được giải thoát khỏi mọi ràng buộc, để hoàn toàn tự do cho sứ vụ của Nước Trời. Xin ơn để cho đời mình trong suốt hầu hình ảnh Thiên Chúa trong tôi được chói ngời. Xin cho tôi nghèo cái nghèo của Thiên Chúa làm người và sống trọn vẹn cho Ý Cha. Sẽ có những thánh giá lớn nhỏ chờ tôi phía trước, nhưng tôi xin được ôm lấy với tất cả tình yêu, vì biết: qua đó tôi được nên giống Đấng lòng tôi yêu mến và say sưa bước theo. Nếu có giây phút nào cảm thấy chạnh lòng, đuối sức, tôi sẽ tiếp tục ngước nhìn lên Đấng tôi đã đâm thâu, Đấng yêu tôi đến giọt máu và nước cuối cùng, để tôi được nên một và mãi thuộc trọn về Ngài. Chính trên đỉnh yêu thương ấy Thiên Chúa tiếp tục trả lời cho mọi vấn nạn, mọi ước mơ, khát khao nên thánh của tôi và chỉ cho tôi đường về nhà Cha.
Tôi đã được yêu và sẽ mãi được yêu đến cùng.
Fidei
