Tình Yêu Tự Hiến

Trong Cựu Ước, sách Đệ Nhị Luật và nhiều sách, nhiều Thánh vịnh nhắc nhở cho dân Chúa về tình yêu của Thiên Chúa dành cho họ, nhưng họ luôn quên lãng và chạy theo những gì trước mắt hấp dẫn họ. Mô-sê đã giải thích lý do: “Đức Chúa chưa ban cho anh em mắt để thấy, tai để nghe và lòng để biết” (Đnl 19,3). Được yêu là một chuyện, nhận biết mình được yêu là một chuyện và đáp lại tình yêu là khác nữa. Để nhận biết mình được yêu thì phải có mắt để thấy, có tai để nghe và có con tim biết rung động nữa. Những đứa con cưng nhiều khi chẳng nhận biết tình yêu của cha mẹ. Trong dụ ngôn người cha nhân hậu và hai người con (Lc 15,11-32), cả hai người con đều không nhận biết tình yêu của người cha. Người con thứ bỏ nhà đi thật xa để tìm hạnh phúc. Người con cả ở nhà với cha thì tự coi mình là tôi tớ trung thành tận tụy “hầu hạ cha”. Cả hai đều không nghe, không thấy và không biết cha yêu mình như thế nào. Người con thứ lâm cảnh khốn cùng quay về, được cha chạy ra ôm vào lòng mới mở mắt, mở tai, mở lòng để nhận ra và để cho cha yêu. Người con cả thì vẫn chưa mở mắt, mở tai, mở lòng để biết tình yêu của cha và chưa biết rung động theo nhịp tim của cha.

Các ngôn sứ, đặc biệt Êdêkien (36,1-38) đã loan báo sự can thiệp quyết liệt của Thiên Chúa để dân của Giao Ước nhận biết và đáp lại tình yêu của Thiên Chúa và cho mọi dân nhận biết Thiên Chúa.

Hai bài thánh ca trong thư Êphêxô 1,3-14 và thư Côlôxê 1,15-20 cho ta chiêm ngắm Thiên Chúa Cha yêu Con Một như thế nào.
Trong Tin Mừng thứ tư thì chính Chúa Giêsu diễn tả:
Quả thật, Chúa Cha yêu người Con và cho người Con thấy mọi điều mình làm, lại sẽ còn cho người Con thấy những việc lớn lao hơn nữa, khiến chính các ông cũng phải kinh ngạc. Chúa Cha làm cho kẻ chết trỗi dậy và ban sự sống cho họ thế nào, thì người Con cũng ban sự sống cho ai tuỳ ý. Quả thật, Chúa Cha không xét xử một ai, nhưng đã ban cho người Con mọi quyền xét xử, để ai nấy đều tôn kính người Con như tôn kính Chúa Cha. Kẻ nào không tôn kính người Con, thì cũng không tôn kính Chúa Cha, Đấng đã sai người Con. Thật, tôi bảo thật các ông: Ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống. (5,20-24)

Con là trung gian duy nhất: “Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy. Nếu anh em biết Thầy thì anh em biết Chúa Cha.” (14,6-7). Con Một là Đấng thừa kế duy nhất: “Mọi sự của Chúa Cha là của Thầy.” (16,15)

Con Một thành Trường Tử giữa mọi loài thọ tạo (Cl 1,15); “đứng đầu mọi loài trên trời dưới đất” (Ep 1,10); “Trưởng Tử giữa một đàn em đông đúc” (Rm 8,29).
Cha yêu Con nên không bao giờ bỏ Con một mình, ngay cả trên thập giá: “Này đến giờ –và giờ ấy đã đến rồi– anh em sẽ bị phân tán mỗi người một ngả và để Thầy cô độc một mình. Nhưng Thầy không cô độc đâu, vì Chúa Cha ở với Thầy.”

Khi Ápraham dẫn con lên núi để dâng con làm của lễ toàn thiêu, con vác củi, cha cầm lửa và dao, “hai cha còn cùng đi”. Sự thinh lặng chỉ bị ngắt quãng bởi cuộc đối thoại ngắn ngủi, đầy âu yếm mà ta chỉ được nghe có một lần: “Cha ơi!” … “Cha đây con!” … “Con của Cha à!” rồi “Hai cha con cùng đi». (St 22,6-8). Hai cha con cùng đi lên núi để tế lễ cho Thiên Chúa. Cha là người tế lễ, con là của lễ. Hai cha con cùng đi.

Trong Tin Mừng thứ tư không có Simôn vác thập giá đỡ Chúa Giêsu, Chúa Giêsu tự vác lấy thập giá đi thẳng tới Gôngôtha (Ga 19,17). Cuộc đối thoại giữa hai cha con đã diễn ra ở chương (12,27-30). Trên đường lên Gôngôtha, mắt ta chỉ thấy Chúa Giêsu vác thập giá, nhưng Người đã cho ta biết trước là có Cha ở với Người: «Hai cha con cùng đi !»

Lời cuối cùng của Chúa Giêsu trên thập giá trong Tin Mừng thứ tư là: «Đã hoàn tất!» Trong Tin Mừng thứ ba là: «Cha ơi, con phó linh hồn con trong tay Cha!”.

Tin Mừng Mátthêu và Máccô kể một tiếng kêu lớn, một tiếng thét lên. Tiếng thét này có thể hiểu theo thánh vịnh 37/38: “Tim thét gào thì miệng phải rống lên”. Nhưng cũng có thể hiểu là tiếng quát nạt của Thiên Chúa trên những kẻ chống lại Đấng Người đã xức dầu tấn phong: Rồi nổi trận lôi đình, Người quát nạt, trút cơn thịnh nộ, khiến chúng kinh hoàng (Tv 2,5); bởi vì cả hai sách Tin Mừng này đã kể cuộc hiển linh của Thiên Chúa theo hình ảnh cuộc hiển linh trên núi Xi-nai (Xh 19,16-19;20,21) và thánh vịnh 17/18,7-15; và Chúa Giêsu đã dâng lên Cha lời cầu nguyện của người công chính bị bách hại (Tv 21/22,2-3)

Từ giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ cả mặt đất, mãi đến giờ thứ chín. Vào giờ thứ chín, Đức Giê-su kêu lớn tiếng: “Ê-li, Ê-li, lê-ma xa-bác-tha-ni”, nghĩa là “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói: “Hắn ta gọi ông Ê-li-a!” Lập tức, một người trong bọn chạy đi lấy miếng bọt biển, thấm đầy giấm, buộc vào đầu cây sậy và đưa lên cho Người uống. Còn những người khác lại bảo: “Khoan đã, để xem ông Êlia có đến cứu hắn không!” Đức Giêsu lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn.

Thiên Chúa lấy mây mù che cho Con đang trần truồng trên thập giá và ở với Con cho đến khi mọi sự hoàn tất. Trên núi Xinai ông Môsê chỉ tiến đến gần đám mây mù Thiên Chúa ngự. Trên thập giá, ngay giữa trưa, bóng tối bao trùm cả trời đất. Tiếng thét của Con vừa là tiếng hô của võ sĩ khi tung tuyệt chiêu hạ gục đối thủ, vừa là tiếng Cha quát nạt kẻ thù.

Trong Cựu Ước (Đnl 6,4-5) cũng như trong Tân Ước (Mt 22,34-37; Mc 12,28-30; Lc 10,25-28), điều răn lớn nhất và đứng đầu mọi điều răn của Thiên Chúa là: “Nghe đây, hỡi Israen! ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa chúng ta, là ĐỨC CHÚA duy nhất. 5Hãy yêu mến ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), hết lòng hết dạ, hết sức anh (em).

Trong Cựu Ước, sau ba vị tổ phụ Abraham, Ixaác và Giacóp thì suốt lịch sử là một cuộc vật lộn giữa Thiên Chúa với dân của Giao Ước qua các ngôn sứ, các biến cố… chỉ có một số “sót lại” trung thành với Thiên Chúa. Trong sách Đệ Nhị Luật, Môsê loan báo Thiên Chúa sẽ “cắt bì” trái tim để dân có thể thực thi điều răn này (30,6). Giêrêmia loan báo Thiên Chúa sẽ khắc luật trong tim (31,33-34); Êdêkien loan báo Thiên Chúa sẽ thay tim cho dân trong Giao Ước mới (36, 26).

Trên thập giá, Trưởng Tử, Anh Cả Giê-su thay mặt cho cả đàn em đông đúc yêu mến Cha bằng trót cả sức lực, trót cả mạng sống và trót cả trái tim, rồi trao thần khí cho đàn em để có thể yêu mến Cha như vậy. Và để chứng thực Người đã yêu mến Cha bằng tất cả trái tim thì đã để cho tên lính Rô-ma đâm thủng cạnh sườn, cho giọt máu, giọt nước cuối cùng chảy ra.

Điều răn thứ hai giống như điều thứ nhất và không thể tách rời là: “Yêu mến người thân cận như chính mình” (Lv 19,18; Mc 12,33b; Mt 22,19; Lc 19,27). Trong cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu với người thông luật ở Luca chương 10, Chúa Giêsu đã mở rộng ý nghĩa của “người thân cận” ra ngoài phạm vi chủng tộc đến bất cứ con người nào.

Trong Tin Mừng thứ tư thì Chúa Giêsu chết để “qui tụ con cái Thiên Chúa tản mác khắp nơi lại làm một” (Ga 11, 52). Trong diễn từ giã biệt sau bữa Tiệc Ly, thì Chúa Giêsu cho một tiêu chuẩn mới để biết phải yêu tha nhân như thế nào: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” (Ga 13, 34). Sau đó Chúa còn giải thích thêm: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Đây là điều răn của Thầy: Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết. (Ga 15, 9.12-15). Gương mẫu và mức độ yêu mến của Chúa Giêsu là Chúa Cha. Mức độ ấy Chúa Giêsu xác định: “Hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình”. Nhưng Chúa Giê-su lại vượt lằn mức ấy khi hiến mạng sống để làm cho chúng ta trở thành bạn hữu, anh em của Chúa.

Thánh Phaolô giải thích: “Quả vậy, khi chúng ta không có sức làm được gì vì còn là hạng người vô đạo, thì theo đúng kỳ hạn, Đức Kitô đã chết vì chúng ta. Hầu như không ai chết vì người công chính, hoạ may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. Thế mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Phương chi bây giờ chúng ta đã được nên công chính nhờ máu Đức Kitô đổ ra, hẳn chúng ta sẽ được Người cứu khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa. Thật vậy, nếu ngay khi chúng ta còn thù nghịch với Thiên Chúa, Thiên Chúa đã để cho Con của Người phải chết mà cho chúng ta được hoà giải với Người” (Rm 5,6-10).

Nt. Têrêsa Hà thị Khiết Tâm

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *