
Huấn luyện đời sống cầu nguyện và phân định thiêng liêng luôn là một trong những vấn đề được ưu tiên hàng đầu trong hành trình huấn luyện một người tu sĩ trưởng thành. Nếu việc đào tạo một ứng sinh trên những bình diện tự nhiên như nhân bản, tri thức đã khó thì huấn luyện đời sống thiêng liêng lại càng khó hơn bởi vì ta đối diện với một kinh nghiệm xem ra vô hình, trừu tượng, khó nắm bắt, và thiên về yếu tố “tòa trong”. Tuy khó, nhưng không phải là không có lối tiếp cận, bởi vì đời sống thiêng liêng của một người khởi đi từ chính những yếu tố rất con người, đồng thời, sự huấn luyện ấy cũng phải chạm và hướng đến tất cả các chiều kích của con người.
Là nữ tu Mến Thánh Giá, tôi được mời gọi cho Chúa mượn thân xác để tiếp nối công trình cứu độ của Người theo tinh thần của Thánh Phaolô:
“Tôi hoàn tất nơi thân xác tôi những gì còn thiếu trong các nỗi gian truân Đức Kitô phải chịu cho thân mình Người là Hội Thánh” (Cl 1, 24).
Trước đây tôi chỉ hiểu câu nói ấy đơn thuần về khía cạnh thân xác, nhưng bây giờ tôi ý thức “thân xác” mà thánh Phaolô muốn nhắc đến ở đây là một con người sống động, bao gồm tất các các yếu tố thể lý, tâm lý…; hay nói cách khác, là một con người với tất cả động năng. Tuy nhiên, cũng chính yếu tố con người ấy lại khiến cho hành trình tâm linh của mỗi người sẽ rất khác nhau.
Cái khác trước tiên đó là “hình ảnh mặc định về Thiên Chúa”. Trong Kinh Tin Kính, người Kitô hữu tuyên xưng tin vào một Thiên Chúa duy nhất. Tuy nhiên, hình ảnh về Vị “Thiên Chúa duy nhất” lại không duy nhất. Quan niệm của một người về Thiên Chúa thường chịu ảnh hưởng bởi mối quan hệ của họ với cha mẹ. Chính bản thân tôi kinh nghiệm được điều này. Tôi hạnh phúc được có cha mẹ đạo hạnh với một đức tin vững vàng. Việc sống đạo của tôi không chỉ là tham dự các sinh hoạt tôn giáo ở nhà thờ, nhưng ngay từ nhỏ, Má tôi đã giúp con cái có được một tương quan sống động với Thiên Chúa bằng những điều rất đơn giản trong ngày sống: cám ơn Chúa khi ăn cơm; lúc uống thuốc thì làm dấu rồi “xin Chúa cất thoát bệnh nạn cho con”; khi học bài thì “xin Chúa Thánh Thần soi trí mở lòng cho con”; khi đi thi cử thì nói với Chúa: “xin Chúa ban ơn Thánh Thần giúp con nhớ những gì con đã học để làm bài tốt”… Mỗi tối, tôi lại được cùng Má đến nhà thờ quỳ cầu nguyện bên Thánh Thể Chúa, rồi Má dạy tôi cách thân thưa trò chuyện với Chúa, với Thánh Cả Giuse và Đức Mẹ… Những yếu tố nho nhỏ ấy dần tạo nên nơi tôi một nhãn quan về Thiên Chúa quan phòng – Đấng luôn che chở và là Đấng mà tôi cần chạy đến nương nhờ mỗi khi gặp khó khăn. Những hình ảnh đẹp này có thể vẫn chưa hoàn toàn trùng khớp với vị Thiên Chúa mà tôi tuyên xưng, nhưng ít nhất, hình ảnh mặc định ấy giúp tôi dễ dàng thiết lập tương quan với Thiên Chúa, đồng thời là nền tảng cần thiết giúp tôi ngày một đến gần hơn với “Thiên Chúa thật”.
Khi bắt đầu bước vào đời tu, tôi được thực hành cầu nguyện, học hỏi Kinh Thánh, chia sẻ Lời Chúa, được đồng hành khi gặp khó khăn về đời sống thiêng liêng… Nhờ thế, tôi thấy mình có thêm hiểu biết về Thiên Chúa. Tuy nhiên, những phương pháp cầu nguyện, những ghi chép sổ sách để nộp… ban đầu được khởi đi từ một ý hướng tốt lành, nhưng dường như vô tình lại khiến tương quan của tôi với Chúa trở nên máy móc, “phương pháp hóa”, “công thức hóa” vì tôi chưa nhận thức đúng và đủ.
Khi lên giai đoạn Học viện, tôi bắt đầu phải chủ động và “tự lập” hơn trong đời sống cầu nguyện, đồng thời phải đối diện với nhiều vấn đề khó khăn thách đố của mục vụ, của đời sống cộng đoàn. Có một gia đoạn, tôi rơi vào khủng hoảng ơn gọi, mà nguyên nhân sâu xa là do tôi bắt đầu xao nhãng việc cầu nguyện. Nhưng cũng chính trong thời điểm ấy mà tôi ý thức mình cần đến sự đồng hành và chữa lành của Thiên Chúa. Nhờ can đảm đối diện với những cảm xúc rất thật của bản thân và nhất là nhờ mở rộng tâm hồn cho ân sủng của Thiên Chúa chạm đến nên tôi đã được biến đổi tận căn.
Đặc biệt khi đã khấn trọn, tôi phải tự trách nhiệm về đời sống thiêng liêng của mình. Lúc này tôi chợt nhận ra những phương pháp cầu nguyện tôi được học hỏi, những kỷ luật giờ giấc ở các giai đoạn trước chính là hàng rào bảo vệ giúp “cây” đời sống thiêng liêng của tôi cứng cáp hơn trong những năm đầu còn non nớt. Giờ đây, đứng trước mọi biến cố, tôi nhận ra mọi biến cố, mọi cảm xúc đều có thể là chất liệu cho lời cầu nguyện. Tôi tập để đến với Chúa bằng con người thật, con người cụ thể, với tất cả cuộc sống, hoàn cảnh, tâm tư, khao khát của mình, với cả quá khứ, hiện tại cũng như tương lai.
Nói như thế không có nghĩa là tôi đang “bon bon” trên đường nhân đức. Kinh nghiệm kể trên chỉ là những khoảnh khắc ân sủng hay một vài diễn tả về những nét đặc trưng của từng giai đoạn trong hành trình tâm linh của tôi, mà ở thời điểm đó, Chúa cho tôi được cảm nếm để mạnh sức tiếp tục lộ trình nhiều “trúc trắc trục trặc” kéo dài suốt đời trong ba nhịp của sự thanh luyện, soi sáng và thần hiệp.
Mỗi ngày tôi càng nghiệm ra cái căn cốt của việc huấn luyện đời sống cầu nguyện chính là lời mời gọi người thụ huấn thiết lập tương giao thân tình với Thiên Chúa, với trọn vẹn con người: thân xác, trí khôn, tinh thần, suy nghĩ, vô thức, tiềm thức, tình cảm, nhu cầu, thái độ, giá trị… bởi vì, chỉ khi cảm nhận sự hiện diện, đụng chạm của Thiên Chúa trong cuộc đời mình, tôi mới có thể sống phó thác và tin yêu và mới đủ sức vượt qua mọi khó khăn trong bàn tay Thiên Chúa nhân lành.
Fiat
